Lần đầu tiên, Truyện Kiều bản Tăng Hữu Ứng chép năm 1874 được in thành sách. Chữ Nôm và Quốc Ngữ đặt cạnh nhau từng câu, để bạn đọc áng thơ đúng như người xưa đã viết.
MỤC LỤC
Câu chuyện của cuốn sách, từ người viết đến người chép, đến tay bạn.
- IĐại thi hào Nguyễn Du1765 đến 1820
- IIKiều là aiMười lăm năm lưu lạc
- IIIHành trình bản chép tay1874 đến 2026
- IVBài đề từ của Phạm Quý ThíchThủ bút 1874
- VChữ Nôm, chữ của người ViệtKhác chữ Hán thế nào
- VINhững câu thơ chữ NômNguyên văn
- VIIBên trong sáchTrang mẫu
- VIIISự tỉ mỉ trong từng trangCách làm sách
- IXBa ấn bảnĐặt mua
Đại thi hào Nguyễn Du
Danh nhân văn hóa thế giới, tác giả Truyện Kiều. Tự Tố Như, hiệu Thanh Hiên, người làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, Hà Tĩnh.
Một cuốn tiểu thuyết bên Trung Hoa
Thanh Tâm Tài Nhân viết Kim Vân Kiều truyện, tiểu thuyết chương hồi kể chuyện nàng Kiều đời Minh, năm Gia Tĩnh.
Ra đời ở Thăng Long
Nguyễn Du sinh trong một gia đình quyền quý.
Những năm loạn lạc
Nhà Lê sụp đổ trước quân Tây Sơn. Nguyễn Du lánh về sống ở thôn quê.
Ra làm quan
Nhà Nguyễn lên ngôi, Nguyễn Du làm quan dưới đời Gia Long, và năm 1813 đi sứ sang Trung Hoa.
Mất ở Huế
Ông để lại Đoạn Trường Tân Thanh, mà người đời quen gọi là Truyện Kiều.
Danh nhân văn hóa thế giới
Nhân dịp kỷ niệm 250 năm ngày sinh, Nguyễn Du được UNESCO vinh danh là Danh nhân văn hóa thế giới.
Từ một cuốn tiểu thuyết ít người biết, Nguyễn Du làm nên áng thơ được xem là đỉnh cao của văn chương tiếng Việt.
Đoạn Trường Tân Thanh viết bằng chữ Nôm, thể lục bát, dài hơn ba nghìn câu. Năm viết đến nay vẫn còn bàn: nhiều người cho là sau chuyến đi sứ, có người cho là sớm hơn. Một tác phẩm như vậy hẳn đã được ông ấp ủ, ngẫm nghĩ qua nhiều tháng, nhiều năm, nên khó định được một năm chính xác. Bản thân Nguyễn Du cũng chẳng để lại dòng nào cho biết, và sau hơn hai trăm năm, giấy tờ ghi chép thời ấy đã thất lạc. Nguyễn Du giữ gần như nguyên nhân vật và tình tiết của truyện gốc, nên câu chuyện vẫn diễn ra ở Trung Hoa, với những địa danh như Bắc Kinh, Lâm Tri, sông Tiền Đường.
Nhưng qua ngòi bút của ông, câu chuyện bên Tàu đã mang hồn Việt. Tiếng thơ, lời ăn tiếng nói, ca dao tục ngữ, tình cảm và cách nhìn đời trong Truyện Kiều đều là của người Việt, nên người đọc gặp nàng Kiều như gặp một người con gái quê mình.
Hai trăm năm sau, người Việt ở khắp nơi vẫn thuộc lòng từng câu, vẫn bói Kiều, lẩy Kiều, ru con bằng Kiều.
Kiều là ai
Câu chuyện xoay quanh chữ tài và chữ mệnh, để rồi kết lại ở chữ tâm.
Vương Thúy Kiều, sắc đẹp hơn người, giỏi cầm kỳ thi họa.
Nàng là con gái đầu của một nhà viên ngoại họ Vương. Trong tiết Thanh Minh, nàng gặp chàng thư sinh Kim Trọng, hai người thề nguyền gắn bó.
Rồi gia đình gặp nạn, cha và em trai bị bắt oan. Kiều bán mình chuộc cha, nhờ em gái là Thúy Vân thay mình kết duyên với Kim Trọng. Từ đó nàng trôi nổi mười lăm năm: bị lừa vào lầu xanh của Tú Bà, làm lẽ Thúc Sinh và bị Hoạn Thư đày đọa, rồi gặp người anh hùng Từ Hải.
Khi Từ Hải trúng kế Hồ Tôn Hiến mà chết, Kiều gieo mình xuống sông Tiền Đường, được sư Giác Duyên cứu sống. Sau cùng Kim Trọng tìm được nàng, cả nhà đoàn tụ, và Kiều xin đổi tình vợ chồng thành tình bạn.
Câu chuyện qua 17 bức tranh trong sách
Mỗi đoạn truyện lớn có một bức tranh in màu trọn trang, kèm hai câu thơ của chính cảnh ấy. Có tranh vẽ theo y phục đời Minh của nguyên truyện, có tranh theo áo vấn khăn, lũy tre, hồ sen của người đọc Việt.








Hành trình của bản chép tay 1874
Một áng thơ hay đến mấy cũng chỉ sống được nếu có người chịu chép lại nó.
Tăng Hữu Ứng chép tay
Năm Tự Đức, Giáp Tuất, 54 năm sau ngày Nguyễn Du mất, ông Tăng Hữu Ứng chép trọn bộ Truyện Kiều bằng chữ Nôm. Người đời sau tả nét bút ấy là "chữ chân phương tuyệt đẹp, đều đặn, rõ nét, dễ đọc". Đầu bản còn giữ bài đề từ của Phạm Quý Thích, người bạn thân của Nguyễn Du, do chính tay ông chép lại.
Tìm thấy ở Huế
Giáo sư Đàm Quang Hưng sưu tầm được bản chép tay ấy ở Huế, và trao cho Bác sĩ Nguyễn Huy Hùng một bản phóng ảnh.
Từng chữ được gõ lại ở Houston
Tại Houston, Bác sĩ Nguyễn Huy Hùng dành nhiều năm dựng lại toàn bộ tác phẩm trên máy tính. Hơn hai vạn chữ Nôm được ông tự tạo hình từng chữ, chứa trong khoảng 80 bộ font riêng, mỗi câu chữ Nôm đi kèm một câu Quốc Ngữ. Ngày 27 tháng 10 năm 2002, ông ký tên và gửi tặng bằng hữu năm châu bốn biển, mượn chính lời kết của Truyện Kiều: để "mua vui trong một vài trống canh".
Được giới nghiên cứu ghi nhận
Hội Bảo tồn Di sản Chữ Nôm đưa bản 1874 vào sáu phiên bản Truyện Kiều được đem ra đối chiếu trong hội thảo năm 2006, và ghi rõ: bản này có 3.260 câu, nhiều hơn các bản khác 6 câu.
Lần đầu tiên thành sách
Sách Việt sắp chữ lại và in thành sách, giữ nguyên văn bản và cách đánh số câu của bản ấy, chữ Nôm in đúng nét chữ của bản chép tay. Hơn 150 năm sau ngày Tăng Hữu Ứng đặt bút, bản Kiều này mới có thể cầm trên tay, đặt lên kệ, truyền lại cho con cháu.
"Nếu như vị nào có nhu cầu, muốn làm copy thêm xin cứ tự nhiên."
Lời nhắn của Bác sĩ Nguyễn Huy Hùng gửi kèm tác phẩm. Sách Việt xin cảm tạ tấm lòng ấy.Bài đề từ của Phạm Quý Thích
Bài thơ người bạn thân của Nguyễn Du viết khi nghe Đoạn Trường Tân Thanh, chép ở đầu bản 1874 bằng chính nét bút Tăng Hữu Ứng.
| 佳人不是到錢塘 | Giai nhân bất thị đáo Tiền ĐườngGiá người đẹp chẳng đến sông Tiền Đường, |
| 半世煙花債未償 | Bán thế yên hoa trái vị thườngthì nửa đời nợ yên hoa vẫn chưa trả hết. |
| 玉面豈應埋水國 | Ngọc diện khởi ưng mai thủy quốcMặt ngọc lẽ đâu đành vùi nơi đáy nước, |
| 冰心自可對金郎 | Băng tâm tự khả đối Kim langlòng trong như băng vẫn còn nhìn mặt được chàng Kim. |
| 斷腸夢裡根緣了 | Đoạn trường mộng lý căn duyên liễuTrong giấc mộng đoạn trường, căn duyên đã dứt, |
| 薄命琴終怨恨長 | Bạc mệnh cầm chung oán hận trườngkhúc đàn bạc mệnh đã dứt, mà oán hận còn dài. |
| 一片才情千古累 | Nhất phiến tài tình thiên cổ lụyMột mảnh tài tình, lụy đến nghìn đời, |
| 新聲到底為誰傷 | Tân thanh đáo để vị thùy thươngkhúc tân thanh rốt cuộc là thương xót cho ai? |
Chữ Nôm, chữ của người Việt
Truyện Kiều được viết bằng chữ Nôm, thứ chữ ghi lại đúng tiếng nói của người Việt. Chính vì thế áng thơ mới đi vào lòng người, từ cung đình tới xóm làng.
Chữ của người Trung Hoa, ông cha ta dùng trong thi cử, sách vở và giấy tờ triều đình. Đọc lên bằng âm Hán Việt, viết theo văn phạm Hán, nên phải học nhiều năm mới đọc hiểu được. Bài đề từ của Phạm Quý Thích ở chương IV viết bằng chữ Hán.

Chữ người Việt tự đặt ra, dựa trên nét chữ Hán, để ghi lại chính tiếng nói hằng ngày. Có chữ mượn nguyên một chữ Hán để ghi âm, có chữ ghép hai phần, một phần gợi nghĩa, một phần gợi âm. Từ đời Trần, Hàn Thuyên đã nổi tiếng làm thơ bằng chữ Nôm.
Vì thế mỗi câu Nôm trong sách đều có câu Quốc Ngữ đi kèm. Bạn vừa ngắm được nét chữ của người xưa, vừa đọc trọn được áng thơ.
Những câu thơ bạn đã thuộc, trong nét chữ của năm 1874
Mỗi câu dưới đây lấy nguyên từ trang sách, chữ Nôm phía trên, Quốc Ngữ phía dưới.


Trăm năm trong cõi người ta
Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau


Làn thu thuỷ, nét xuân sơn
Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh


Cỏ non xanh tận chân trời
Cành lê trắng điểm một vài bông hoa


Trước lầu Ngưng Bích khóa xuân
Vệt non xa tấm trăng gần ở chung


Buồn trông cửa biển chiều hôm
Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa
Để ý kỹ, bạn sẽ thấy vài chữ khác với bản quen thuộc trong sách giáo khoa, như "vệt non xa" hay "cửa biển". Đó là cách đọc riêng của bản chép tay 1874, và sách giữ nguyên đúng như thế.
Những câu thơ hiếm của bản 1874
Bản 1874 dài hơn các bản phổ biến 6 câu. Ở ba đoạn truyện, bản chép tay giữ những câu thơ khác hẳn các bản in khắc năm 1866, 1871 và 1872. Đây là hai trong số đó.


Mở xem thủ bút nghiêm đường
Nhắn rằng thúc phụ xa đường mệnh chung


Thương ôi, mảnh sắt vào lò
Bấy lâu nay biết dầy vò đến đâu
Bên trong sách
Thơ in một cột giữa trang, chữ Nôm trên, Quốc Ngữ ngay dưới, số câu bên lề để dễ tra cứu. Bấm vào từng trang để xem lớn.

Trang 164 và 165, đoạn Kiều ở nhà Thúc Sinh.






Sự tỉ mỉ trong từng trang
Văn bản đã được rà soát từng câu, từng chữ trước khi in.
Đối chiếu với chính bản gốc
Cả 3.260 câu được so khớp với 315 số thứ tự mà chính bản chép tay tự đánh, để thứ tự từng câu đúng như bản gốc.
Tra cứu với bản in khắc cổ
Từng chữ cần cân nhắc đều được tra lại với hai bản in khắc cổ năm 1866 và 1871 trước khi chốt.
Dựng lại từng nét chữ Nôm
Mỗi chữ Nôm được dựng lại thành nét vẽ thật, nên in ra sắc nét, đúng hình chữ của bản chép tay.
217 mục chú giải
Mục lục chia theo 28 đoạn truyện trong 3 phần, cùng 217 chú giải cho những điển tích, địa danh và nhân vật mà người đọc hôm nay dễ bỏ sót.
Hơn 150 năm qua, bản Kiều này còn lại được là nhờ có người giữ nó. Giờ đến lượt bạn.
Ba ấn bản
Cả ba có cùng nội dung trọn vẹn. Khác nhau ở cách đóng sách và giấy in.
Bìa mềm
- Khổ 6 x 9 inch, 380 trang
- Bìa mềm cán mờ
- 17 tranh minh họa in màu
- Nôm và Quốc Ngữ đối chiếu, có chú giải
Bìa cứng
- Cùng nội dung bản bìa mềm
- Bìa cứng, hình in thẳng lên bìa, cán mờ
- Bền, trang trọng, hợp để giữ lâu
- Món quà đẹp cho người yêu thơ
Collector's Edition
- Bìa vải linen xanh navy, gáy mạ chữ vàng
- Áo bìa in riêng, hoa văn sen mây
- Giấy ruột dày và láng, tranh in sắc nét hơn
- Mỗi cuốn một số riêng, kèm lời nhắn của bạn in trong sách
Giao miễn phí đến mọi nơi trên thế giới.
Giữ một bản cho riêng mình
Truyện Kiều bản chữ Nôm 1874, lần đầu tiên in thành sách.
Đặt mua ngay