Lần đầu tiên, Truyện Kiều bản Tăng Hữu Ứng chép năm 1874 được in thành sách. Chữ Nôm và Quốc Ngữ đặt cạnh nhau từng câu, để bạn đọc áng thơ đúng như người xưa đã viết.
MỤC LỤC
Câu chuyện của cuốn sách, từ người viết đến người chép, đến tay bạn.
- IĐại thi hào Nguyễn Du1765 đến 1820
- IIKiều là aiMười lăm năm lưu lạc
- IIIHành trình bản chép tay1874 đến 2026
- IVBài đề từ của Phạm Quý ThíchThủ bút 1874
- VChữ Nôm, chữ của người ViệtKhác chữ Hán thế nào
- VINhững câu thơ chữ NômNguyên văn
- VIIBên trong sáchTrang mẫu
- VIIIMột ấn bản được biên tập kỹ lưỡngCách làm sách
- IXBa ấn bảnĐặt mua
Đại thi hào Nguyễn Du
Danh nhân văn hóa thế giới, tác giả Truyện Kiều. Tự Tố Như, hiệu Thanh Hiên, người làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, Hà Tĩnh.
Một cuốn tiểu thuyết bên Trung Hoa
Thanh Tâm Tài Nhân viết Kim Vân Kiều truyện, tiểu thuyết chương hồi kể chuyện nàng Kiều đời Minh, năm Gia Tĩnh.
Ra đời ở Thăng Long
Nguyễn Du sinh trong một gia đình quyền quý.
Những năm loạn lạc
Nhà Lê sụp đổ trước quân Tây Sơn. Nguyễn Du lánh về sống ở thôn quê.
Ra làm quan
Nhà Nguyễn lên ngôi, Nguyễn Du làm quan dưới đời Gia Long, và năm 1813 đi sứ sang Trung Hoa.
Người bạn thân đầu tiên truyền Kiều đi
Phạm Quý Thích (1760 đến 1825), đỗ Tiến sĩ đời Lê, là bạn thân của Nguyễn Du. Ông là người đầu tiên đem Đoạn Trường Tân Thanh ra giảng cho học trò, rồi viết bài thơ chữ Hán "Thính Đoạn trường tân thanh hữu cảm", nghĩa là "Nghe Đoạn trường tân thanh mà cảm", ngợi ca tác phẩm. Có thuyết nói chính ông đã cho khắc in Truyện Kiều và phổ biến ở miền Bắc. Bài thơ của ông về sau được chép ở đầu nhiều bản Kiều, gọi là bài đề từ.
Mất ở Huế
Ông để lại Đoạn Trường Tân Thanh, mà người đời quen gọi là Truyện Kiều.
Danh nhân văn hóa thế giới
Nhân dịp kỷ niệm 250 năm ngày sinh, Nguyễn Du được UNESCO vinh danh là Danh nhân văn hóa thế giới.
Từ một cuốn tiểu thuyết ít người biết, Nguyễn Du làm nên áng thơ được xem là đỉnh cao của văn chương tiếng Việt.
Đoạn Trường Tân Thanh viết bằng chữ Nôm, thể lục bát, dài hơn ba nghìn câu. Năm viết đến nay vẫn còn bàn: nhiều người cho là sau chuyến đi sứ, có người cho là sớm hơn. Một tác phẩm như vậy hẳn đã được ông ấp ủ, ngẫm nghĩ qua nhiều tháng, nhiều năm, nên khó định được một năm chính xác. Bản thân Nguyễn Du cũng chẳng để lại dòng nào cho biết, và sau hơn hai trăm năm, giấy tờ ghi chép thời ấy đã thất lạc. Nguyễn Du giữ gần như nguyên nhân vật và tình tiết của truyện gốc, nên câu chuyện vẫn diễn ra ở Trung Hoa, với những địa danh như Bắc Kinh, Lâm Tri, sông Tiền Đường.
Nhưng qua ngòi bút của ông, câu chuyện bên Tàu đã mang hồn Việt. Tiếng thơ, lời ăn tiếng nói, ca dao tục ngữ, tình cảm và cách nhìn đời trong Truyện Kiều đều là của người Việt, nên người đọc gặp nàng Kiều như gặp một người con gái quê mình.
Hai trăm năm sau, người Việt ở khắp nơi vẫn thuộc lòng từng câu, vẫn bói Kiều, lẩy Kiều, ru con bằng Kiều.
Tiểu sử Nguyễn Du
Gia thế, những năm loạn lạc, con đường làm quan và di sản văn chương của đại thi hào.
Đọc tiểu sử Nguyễn DuThu gọn
Gia thế
- 1766
- Nguyễn Du tự Tố Như, hiệu Thanh Hiên, sinh ngày 23 tháng 11 năm Ất Dậu (tức ngày 3 tháng 1 năm 1766) tại phường Bích Câu, Thăng Long. Quê ông ở làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, Hà Tĩnh. Dòng họ Nguyễn Tiên Điền nhiều đời làm quan lớn dưới triều Lê, chúa Trịnh, và nổi tiếng yêu chuộng văn chương.
- Cha mẹ
- Cha ông là Nguyễn Nghiễm, đỗ Nhị giáp tiến sĩ, làm quan tới Đại tư đồ (Tể tướng), tước Xuân Quận công. Mẹ là bà Trần Thị Tần, người xứ Kinh Bắc (nay là Bắc Ninh), có tài hát xướng. Bà mất năm 1778.
Những năm loạn lạc
- 1780
- Anh cả Nguyễn Khản bị khép tội trong vụ án năm Canh Tý. Nguyễn Du được Đoàn Nguyễn Tuấn đón về Sơn Nam Hạ (Nam Định) nuôi ăn học.
- 1783
- Ông đỗ Tam trường kỳ thi Hương ở trường Sơn Nam, lấy con gái Đoàn Nguyễn Thục, và nhận chức Chánh thủ hiệu quân hùng hậu ở Thái Nguyên.
- 1789
- Nhà Lê sụp đổ. Nguyễn Du về sống ở quê vợ (Quỳnh Côi, Thái Bình), rồi về quê nhà Tiên Điền.
- 1796
- Ông định vào Gia Định theo Nguyễn Ánh, bị bắt giam ba tháng ở Nghệ An. Trong ngục, ông viết bài thơ My trung mạn hứng.
Con đường làm quan
- 1802
- Nhà Nguyễn lên ngôi. Nguyễn Du làm Tri huyện Phù Dung (nay thuộc Hưng Yên), vài tháng sau thăng Tri phủ Thường Tín.
- 1803
- Được cử lên ải Nam Quan tiếp sứ nhà Thanh sang phong sắc cho vua Gia Long.
- 1805
- Thăng Đông Các Đại học sĩ, tước Du Đức hầu, vào nhận chức ở kinh đô Phú Xuân.
- 1807
- Làm giám khảo kỳ thi Hương ở Hải Dương.
- 1809
- Giữ chức Cai bạ ở Quảng Bình.
- 1813
- Thăng Cần chánh điện học sĩ, được cử làm Chánh sứ sang nhà Thanh.
- 1814
- Đi sứ về, thăng Hữu tham tri bộ Lễ.
Những năm cuối
- 1820
- Vua Gia Long mất, vua Minh Mạng lên ngôi. Nguyễn Du lại được cử làm Chánh sứ sang nhà Thanh, nhưng chưa kịp lên đường thì lâm bệnh và mất ngày 10 tháng 8 năm Canh Thìn (tháng 9 năm 1820), thọ 54 tuổi. Ông được an táng ở làng An Ninh, huyện Hương Trà, gần chùa Thiên Mụ.
- 1824
- Mộ ông được cải táng về quê nhà Tiên Điền, Hà Tĩnh.
Di sản văn chương
- Chữ Hán
- 250 bài thơ trong ba tập: Thanh Hiên thi tập (78 bài), Nam trung tạp ngâm (40 bài) và Bắc hành tạp lục (132 bài). Những bài nổi tiếng nhất có Độc Tiểu Thanh ký, Sở kiến hành, Long Thành cầm giả ca.
- Chữ Nôm
- Truyện Kiều (Đoạn Trường Tân Thanh), bản phổ biến có 3.254 câu lục bát, còn bản 1874 trong sách này có 3.260 câu. Văn tế thập loại chúng sinh, 184 câu song thất lục bát. Ông còn để lại Văn tế sống hai cô gái Trường Lưu và bài Thác lời trai phường nón.
- UNESCO
- Năm 2013, Đại hội đồng UNESCO khóa 37 thông qua nghị quyết vinh danh Nguyễn Du, để thế giới cùng kỷ niệm 250 năm ngày sinh của ông vào năm 2015.
Cuộc đời nhiều thăng trầm giúp ông thấu hiểu nỗi khổ của mọi kiếp người, và tấm lòng ấy chảy vào từng câu thơ.
Tham khảo: Tiểu sử Đại thi hào Nguyễn Du, Trang thông tin điện tử xã Sơn Hồng, Hà Tĩnh.
Kiều là ai
Câu chuyện xoay quanh chữ tài và chữ mệnh, để rồi kết lại ở chữ tâm.
Vương Thúy Kiều, sắc đẹp hơn người, giỏi cầm kỳ thi họa.
Nàng là con gái đầu của một nhà viên ngoại họ Vương. Trong tiết Thanh Minh, nàng gặp chàng thư sinh Kim Trọng, hai người thề nguyền gắn bó.
Rồi gia đình gặp nạn, cha và em trai bị bắt oan. Kiều bán mình chuộc cha, nhờ em gái là Thúy Vân thay mình kết duyên với Kim Trọng. Từ đó nàng trôi nổi mười lăm năm: bị lừa vào lầu xanh của Tú Bà, làm lẽ Thúc Sinh và bị Hoạn Thư đày đọa, rồi gặp người anh hùng Từ Hải.
Khi Từ Hải trúng kế Hồ Tôn Hiến mà chết, Kiều gieo mình xuống sông Tiền Đường, được sư Giác Duyên cứu sống. Sau cùng Kim Trọng tìm được nàng, cả nhà đoàn tụ, và Kiều xin đổi tình vợ chồng thành tình bạn.
Câu chuyện qua 17 bức tranh trong sách
Mỗi đoạn truyện lớn có một bức tranh in màu trọn trang, kèm hai câu thơ của chính cảnh ấy. Có tranh vẽ theo y phục đời Minh của nguyên truyện, có tranh theo áo vấn khăn, lũy tre, hồ sen của người đọc Việt.

















Hành trình của bản chép tay 1874
Một áng thơ hay đến mấy cũng chỉ sống được nếu có người chịu chép lại nó.
Tăng Hữu Ứng chép tay
Năm Tự Đức, Giáp Tuất, 54 năm sau ngày Nguyễn Du mất, ông Tăng Hữu Ứng chép trọn bộ Truyện Kiều bằng chữ Nôm. Người đời sau tả nét bút ấy là "chữ chân phương tuyệt đẹp, đều đặn, rõ nét, dễ đọc". Đầu bản còn giữ bài đề từ của Phạm Quý Thích, người bạn thân của Nguyễn Du, do chính tay ông chép lại.
Tìm thấy ở Huế
Giáo sư Đàm Quang Hưng sưu tầm được bản chép tay ấy ở Huế, và trao cho Bác sĩ Nguyễn Huy Hùng một bản phóng ảnh.
Từng chữ được gõ lại ở Houston
Tại Houston, Bác sĩ Nguyễn Huy Hùng dành nhiều năm dựng lại toàn bộ tác phẩm trên máy tính. Ông tự tay tạo hình lại từng chữ Nôm, mỗi câu chữ Nôm đi kèm một câu Quốc Ngữ. Ngày 27 tháng 10 năm 2002, ông ký tên và gửi tặng bằng hữu năm châu bốn biển, mượn chính lời kết của Truyện Kiều: để "mua vui trong một vài trống canh".
Được giới nghiên cứu ghi nhận
Hội Bảo tồn Di sản Chữ Nôm đưa bản 1874 vào sáu phiên bản Truyện Kiều được đem ra đối chiếu trong hội thảo năm 2006, và ghi rõ: bản này có 3.260 câu, nhiều hơn các bản khác 6 câu.
Lần đầu tiên thành sách
Sách Việt sắp chữ lại và in thành sách, giữ nguyên văn bản và cách đánh số câu của bản ấy, chữ Nôm in đúng nét chữ của bản chép tay. Hơn 200 năm sau khi Nguyễn Du viết nên áng thơ, và hơn 150 năm sau ngày Tăng Hữu Ứng đặt bút, bản Kiều này mới có thể cầm trên tay, đặt lên kệ, truyền lại cho con cháu.
Bài đề từ của Phạm Quý Thích
Bài thơ người bạn thân của Nguyễn Du viết khi nghe Đoạn Trường Tân Thanh, chép ở đầu bản 1874 bằng chính nét bút Tăng Hữu Ứng.
| 佳人不是到錢塘 | Giai nhân bất thị đáo Tiền ĐườngGiá người đẹp chẳng đến sông Tiền Đường, |
| 半世煙花債未償 | Bán thế yên hoa trái vị thườngthì nửa đời nợ yên hoa vẫn chưa trả hết. |
| 玉面豈應埋水國 | Ngọc diện khởi ưng mai thủy quốcMặt ngọc lẽ đâu đành vùi nơi đáy nước, |
| 冰心自可對金郎 | Băng tâm tự khả đối Kim langlòng trong như băng vẫn còn nhìn mặt được chàng Kim. |
| 斷腸夢裡根緣了 | Đoạn trường mộng lý căn duyên liễuTrong giấc mộng đoạn trường, căn duyên đã dứt, |
| 薄命琴終怨恨長 | Bạc mệnh cầm chung oán hận trườngkhúc đàn bạc mệnh đã dứt, mà oán hận còn dài. |
| 一片才情千古累 | Nhất phiến tài tình thiên cổ lụyMột mảnh tài tình, lụy đến nghìn đời, |
| 新聲到底為誰傷 | Tân thanh đáo để vị thùy thươngkhúc tân thanh rốt cuộc là thương xót cho ai? |
Chữ Nôm, chữ của người Việt
Truyện Kiều được viết bằng chữ Nôm, thứ chữ ghi lại đúng tiếng nói của người Việt. Chính vì thế áng thơ mới đi vào lòng người, từ cung đình tới xóm làng.
Chữ của người Trung Hoa, ông cha ta dùng trong thi cử, sách vở và giấy tờ triều đình. Đọc lên bằng âm Hán Việt, viết theo văn phạm Hán, nên phải học nhiều năm mới đọc hiểu được. Bài đề từ của Phạm Quý Thích ở chương IV viết bằng chữ Hán.

Chữ người Việt tự đặt ra, dựa trên nét chữ Hán, để ghi lại chính tiếng nói hằng ngày. Có chữ mượn nguyên một chữ Hán để ghi âm, có chữ ghép hai phần, một phần gợi nghĩa, một phần gợi âm. Từ đời Trần, Hàn Thuyên đã nổi tiếng làm thơ bằng chữ Nôm.
Đọc từng chữ
Hai câu mở đầu Truyện Kiều, cắt từng chữ từ chính bản chép tay. Dưới mỗi chữ là cách người Trung Quốc đọc chữ ấy, âm Hán Việt, và cách người Việt đọc trong Truyện Kiều.
Xem cách đọc từng chữThu gọn
trămGhép 百 (bách, nghĩa là trăm) với 林 (lâm, gợi âm)
U+24F93 · Unihan
nămGhép 南 (nam, gợi âm) với 年 (niên, nghĩa là năm)
U+221A5 · Unihan
trongMượn âm gần giống, nghĩa Trung là xông lên
U+51B2 · Unihan
cõiGhép 土 (thổ, đất, gợi nghĩa) với 癸 (quý, gợi âm)
U+2139D · Unihan
ngườiGhép 亻 (bộ nhân, chỉ người) với 㝵 (ngại, gợi âm)
U+2029B · Unihan
taGiữ âm Hán Việt, nghĩa Trung là một ít
U+4E9B · UnihanTrăm năm trong cõi người ta
chữChữ Hán đọc theo kiểu Việt, cùng nghĩa
U+5B57 · Unihan
tàiMượn trọn cả âm lẫn nghĩa
U+624D · Unihan
chữNhư chữ đầu câu
U+5B57 · Unihan
mệnhMượn trọn cả âm lẫn nghĩa
U+547D · Unihan
khéoMượn âm gần giống, nghĩa Trung là cái hầm
U+7A96 · Unihan
làMượn âm, nghĩa Trung là lưới bắt chim
U+7F85 · Unihan
ghétChữ hiếm trong tiếng Trung, bộ 忄 (trái tim) gợi nghĩa tình cảm
U+6044 · Unihan
nhauMượn âm gần giống, nghĩa Trung là dồi dào
U+9952 · UnihanChữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau
Muốn tìm hiểu thêm về chữ Hán và chữ Nôm, bạn bấm vào từng chữ để tra trên Unihan, cơ sở dữ liệu chữ Hán của Unicode, có đủ cách đọc tiếng Trung, Hán Việt và chữ Nôm.
Vì thế mỗi câu Nôm trong sách đều có câu Quốc Ngữ đi kèm. Bạn vừa ngắm được nét chữ của người xưa, vừa đọc trọn được áng thơ.
Những câu thơ bạn đã thuộc, trong nét chữ của năm 1874
Mỗi câu dưới đây lấy nguyên từ trang sách, chữ Nôm phía trên, Quốc Ngữ phía dưới.


Trăm năm trong cõi người ta
Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau


Làn thu thuỷ, nét xuân sơn
Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh


Cỏ non xanh tận chân trời
Cành lê trắng điểm một vài bông hoa


Trước lầu Ngưng Bích khóa xuân
Vệt non xa tấm trăng gần ở chung


Buồn trông cửa biển chiều hôm
Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa
Để ý kỹ, bạn sẽ thấy vài chữ khác với bản quen thuộc trong sách giáo khoa, như "vệt non xa" hay "cửa biển". Đó là cách đọc riêng của bản chép tay 1874, và sách giữ nguyên đúng như thế.
Những câu thơ hiếm của bản 1874
Bản 1874 có 3.260 câu, dài hơn các bản in khắc năm 1866, 1871 và 1872 đúng 6 câu, như Hội Bảo tồn Di sản Chữ Nôm đã chỉ ra năm 2006. Khác biệt nằm trọn ở ba đoạn dưới đây, đặt cạnh nhau để bạn so. Trong sách, số câu của những câu này in màu vàng, và một trang riêng ở đầu sách đối chiếu đủ cả ba đoạn.


- 531Mở xem thủ bút nghiêm đường
- 532Nhắn rằng thúc phụ xa đường mệnh chung
- 533Hãy còn ký táng Liêu Đông
- 534Cố hương khơi diễn ngàn trùng sơn khê
- 535Rày đưa linh tẫn về quê
- 536Thế nào con cũng phải về hộ tang
- Đem tin thúc phụ từ đường
- Bơ vơ lữ thấn tha hương đề huề
- Liêu Dương cách trở sơn khê
- Xuân đường kíp gọi Sinh về hộ tang


- 1829Thương ôi, mảnh sắt vào lò
- 1830Bấy lâu nay biết dầy vò đến đâu
- 1831Nỗi lòng chẳng đánh mà đau
- 1832Đương cười nói bỗng mặt rầu giọt sa
- Sợ quen dám hở ra lời
- Khôn ngăn giọt ngọc sụt sùi nhỏ sa
- 1889Sớm khuya hầu hạ đài doanh
- 1890Nét sầu khôn cưỡng, lệ tình khôn ngăn
- 1891Ra vào thui thủi chiếc thân
- 1892Tiểu thư trông mặt xa gần hỏi tra
- Sớm khuya hầu hạ đài doanh
- Tiểu thư chạm mặt, đè tình hỏi tra
Bên trong sách
Thơ in một cột giữa trang, chữ Nôm trên, Quốc Ngữ ngay dưới, số câu bên lề để dễ tra cứu. Bấm vào từng trang để xem lớn, bấm thêm lần nữa để phóng to từng chữ.

Trang 58 và 59, đoạn Kim Trọng nhận thư nhà. Số câu màu vàng đánh dấu câu riêng của bản 1874.








Một ấn bản được biên tập kỹ lưỡng
Văn bản đã được rà soát từng câu, từng chữ trước khi in.
Đối chiếu với chính bản gốc
Cả 3.260 câu được so khớp với 315 số thứ tự mà chính bản chép tay tự đánh, để thứ tự từng câu đúng như bản gốc.
Tra cứu với bản in khắc cổ
Từng chữ cần cân nhắc đều được tra lại với hai bản in khắc cổ năm 1866 và 1871 trước khi chốt.
Dựng lại từng nét chữ Nôm
Mỗi chữ Nôm được dựng lại thành nét vẽ thật, nên in ra sắc nét, đúng hình chữ của bản chép tay.
217 mục chú giải
Mục lục chia theo 28 đoạn truyện trong 3 phần, cùng 217 chú giải cho những điển tích, địa danh và nhân vật mà người đọc hôm nay dễ bỏ sót.
Hơn 150 năm qua, bản Kiều này còn lại được là nhờ có người giữ nó. Giờ đến lượt bạn.
Ba ấn bản
Cả ba có cùng nội dung trọn vẹn. Khác nhau ở cách đóng sách và giấy in.
Bìa mềm
- Khổ 6 x 9 inch (15,2 x 22,9 cm), 380 trang
- Nôm và Quốc Ngữ đối chiếu từng câu
- 17 tranh minh họa in màu
- 217 chú giải điển tích
- Giấy ruột trắng, mặt mịn
- Bìa mềm cán mờ, bền và chống trầy
Bìa cứng
Gồm các nội dung ở bản bìa mềm, và:
- Bìa cứng cán mờ, bọc trên ván dày 2,2 mm
- Giấy lót bìa trắng
- Bền, trang trọng, hợp để giữ lâu và làm quà
Collector's Edition
Gồm các nội dung ở bản bìa cứng, và:
- Bìa linen xanh navy, gáy mạ chữ vàng
- Áo bìa in riêng, hoa văn sen mây
- Giấy ruột dày và láng, tranh in sắc nét
- Mỗi cuốn được đánh số riêng, kèm note của bạn lúc chọn ấn bản
Sách Việt giao miễn phí tới tất cả độc giả yêu mến văn thơ Việt, ở hơn 200 quốc gia và vùng lãnh thổ
Các nơi Sách Việt giao tới (205)
Ả Rập Xê-út
Afghanistan
Ai Cập
Albania
Algeria
Andorra
Angola
Anguilla
Antigua và Barbuda
Áo
Argentina
Armenia
Aruba
Azerbaijan
Ấn Độ
Ba Lan
Bahamas
Bahrain
Bangladesh
Barbados
Bắc Macedonia
Belize
Benin
Bermuda
Bhutan
Bỉ
Bolivia
Bosnia và Herzegovina
Botswana
Bồ Đào Nha
Bờ Biển Ngà
Brazil
Brunei
Bulgaria
Burkina Faso
Burundi
Ca-ri-bê Hà Lan
Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất
Cameroon
Campuchia
Canada
Cape Verde
Chad
Chile
Colombia
Costa Rica
Cộng hòa Congo
Cộng hòa Dân chủ Congo
Cộng hòa Dominica
Croatia
Curaçao
Djibouti
Dominica
Đài Loan
Đan Mạch
Đảo Man
Đức
Ecuador
El Salvador
Eritrea
Estonia
Eswatini
Ethiopia
Fiji
Gabon
Gambia
Georgia
Ghana
Gibraltar
Greenland
Grenada
Guadeloupe
Guam
Guatemala
Guernsey
Guiana thuộc Pháp
Guinea
Guyana
Hà Lan
Haiti
Hàn Quốc
Hoa Kỳ
Honduras
Hồng Kông
Hungary
Hy Lạp
Iceland
Indonesia
Iraq
Ireland
Israel
Italy
Jamaica
Jersey
Jordan
Kazakhstan
Kenya
Kosovo
Kuwait
Kyrgyzstan
Lãnh thổ Ấn Độ Dương thuộc Anh
Lào
Latvia
Lesotho
Li-băng
Liberia
Libya
Liechtenstein
Litva
Luxembourg
Ma Cao
Ma-rốc
Madagascar
Malawi
Malaysia
Maldives
Mali
Malta
Martinique
Mauritania
Mauritius
Mayotte
Mexico
Moldova
Monaco
Montenegro
Montserrat
Mozambique
Mông Cổ
Na Uy
Nam Phi
Namibia
Nepal
New Caledonia
New Zealand
Nhật Bản
Nicaragua
Niger
Nigeria
Oman
Pakistan
Palestine
Panama
Papua New Guinea
Paraguay
Peru
Pháp
Phần Lan
Philippines
Polynesia thuộc Pháp
Puerto Rico
Qatar
Quần đảo Åland
Quần đảo Cayman
Quần đảo Cook
Quần đảo Faroe
Quần đảo Pitcairn
Quần đảo Turks và Caicos
Quần đảo Virgin thuộc Anh
Réunion
Romania
Rwanda
Saint Barthélemy
Saint Kitts và Nevis
Saint Lucia
Saint Martin
Saint Vincent và Grenadines
Samoa
San Marino
Séc
Senegal
Serbia
Seychelles
Singapore
Sint Maarten
Síp
Slovakia
Slovenia
Sri Lanka
Suriname
Svalbard và Jan Mayen
Tanzania
Tây Ban Nha
Tây Sahara
Thái Lan
Thành Vatican
Thổ Nhĩ Kỳ
Thụy Điển
Thụy Sĩ
Timor-Leste
Togo
Tonga
Trinidad và Tobago
Trung Quốc
Tunisia
Úc
Uganda
Uruguay
Uzbekistan
Vanuatu
Việt Nam
Vương quốc Anh
Wallis và Futuna
Zambia
Zimbabwe
Các nơi Sách Việt không giao tới được
Do hạn chế từ đơn vị vận chuyển, Sách Việt không giao tới được các nơi sau:
- Belarus
- Comoros
- Cộng hòa Trung Phi
- Crimea
- Cuba
- Đảo Johnston
- Đảo Wake
- Guinea Xích Đạo
- Guinea-Bissau
- Iran
- Kiribati
- Myanmar
- Nam Sudan
- Nauru
- Nga
- Niue
- Quần đảo Falkland
- Quần đảo Solomon
- Saint Helena, Ascension và Tristan da Cunha
- Saint Pierre và Miquelon
- São Tomé và Príncipe
- Sierra Leone
- Somalia
- Sudan
- Syria
- Tajikistan
- Tokelau
- Triều Tiên
- Turkmenistan
- Tuvalu
- Ukraine
- Venezuela
- Yemen
Giữ một bản cho riêng mình
Truyện Kiều bản chữ Nôm 1874, lần đầu tiên in thành sách.
Đặt mua ngay