TRUYỆN KIỀU
Bản chữ Nôm · 1874

Lần đầu tiên, Truyện Kiều bản Tăng Hữu Ứng chép năm 1874 được in thành sách. Chữ Nôm và Quốc Ngữ đặt cạnh nhau từng câu, để bạn đọc áng thơ đúng như người xưa đã viết.

Bìa Truyện Kiều, thiếu nữ ôm đàn bên ao sen dưới trăng
3.260câu lục bát
17tranh minh họa màu
217mục chú giải
380trang
I

Đại thi hào Nguyễn Du

Danh nhân văn hóa thế giới, tác giả Truyện Kiều. Tự Tố Như, hiệu Thanh Hiên, người làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, Hà Tĩnh.

Thế kỷ 17

Một cuốn tiểu thuyết bên Trung Hoa

Thanh Tâm Tài Nhân viết Kim Vân Kiều truyện, tiểu thuyết chương hồi kể chuyện nàng Kiều đời Minh, năm Gia Tĩnh.

1765

Ra đời ở Thăng Long

Nguyễn Du sinh trong một gia đình quyền quý.

1789

Những năm loạn lạc

Nhà Lê sụp đổ trước quân Tây Sơn. Nguyễn Du lánh về sống ở thôn quê.

1802

Ra làm quan

Nhà Nguyễn lên ngôi, Nguyễn Du làm quan dưới đời Gia Long, và năm 1813 đi sứ sang Trung Hoa.

Đầu thế kỷ 19

Người bạn thân đầu tiên truyền Kiều đi

Phạm Quý Thích (1760 đến 1825), đỗ Tiến sĩ đời Lê, là bạn thân của Nguyễn Du. Ông là người đầu tiên đem Đoạn Trường Tân Thanh ra giảng cho học trò, rồi viết bài thơ chữ Hán "Thính Đoạn trường tân thanh hữu cảm", nghĩa là "Nghe Đoạn trường tân thanh mà cảm", ngợi ca tác phẩm. Có thuyết nói chính ông đã cho khắc in Truyện Kiều và phổ biến ở miền Bắc. Bài thơ của ông về sau được chép ở đầu nhiều bản Kiều, gọi là bài đề từ.

1820

Mất ở Huế

Ông để lại Đoạn Trường Tân Thanh, mà người đời quen gọi là Truyện Kiều.

2015

Danh nhân văn hóa thế giới

Nhân dịp kỷ niệm 250 năm ngày sinh, Nguyễn Du được UNESCO vinh danh là Danh nhân văn hóa thế giới.

Từ một cuốn tiểu thuyết ít người biết, Nguyễn Du làm nên áng thơ được xem là đỉnh cao của văn chương tiếng Việt.

Đoạn Trường Tân Thanh viết bằng chữ Nôm, thể lục bát, dài hơn ba nghìn câu. Năm viết đến nay vẫn còn bàn: nhiều người cho là sau chuyến đi sứ, có người cho là sớm hơn. Một tác phẩm như vậy hẳn đã được ông ấp ủ, ngẫm nghĩ qua nhiều tháng, nhiều năm, nên khó định được một năm chính xác. Bản thân Nguyễn Du cũng chẳng để lại dòng nào cho biết, và sau hơn hai trăm năm, giấy tờ ghi chép thời ấy đã thất lạc. Nguyễn Du giữ gần như nguyên nhân vật và tình tiết của truyện gốc, nên câu chuyện vẫn diễn ra ở Trung Hoa, với những địa danh như Bắc Kinh, Lâm Tri, sông Tiền Đường.

Nhưng qua ngòi bút của ông, câu chuyện bên Tàu đã mang hồn Việt. Tiếng thơ, lời ăn tiếng nói, ca dao tục ngữ, tình cảm và cách nhìn đời trong Truyện Kiều đều là của người Việt, nên người đọc gặp nàng Kiều như gặp một người con gái quê mình.

Hai trăm năm sau, người Việt ở khắp nơi vẫn thuộc lòng từng câu, vẫn bói Kiều, lẩy Kiều, ru con bằng Kiều.

Tiểu sử Nguyễn Du

Gia thế, những năm loạn lạc, con đường làm quan và di sản văn chương của đại thi hào.

Đọc tiểu sử Nguyễn DuThu gọn

Gia thế

1766
Nguyễn Du tự Tố Như, hiệu Thanh Hiên, sinh ngày 23 tháng 11 năm Ất Dậu (tức ngày 3 tháng 1 năm 1766) tại phường Bích Câu, Thăng Long. Quê ông ở làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, Hà Tĩnh. Dòng họ Nguyễn Tiên Điền nhiều đời làm quan lớn dưới triều Lê, chúa Trịnh, và nổi tiếng yêu chuộng văn chương.
Cha mẹ
Cha ông là Nguyễn Nghiễm, đỗ Nhị giáp tiến sĩ, làm quan tới Đại tư đồ (Tể tướng), tước Xuân Quận công. Mẹ là bà Trần Thị Tần, người xứ Kinh Bắc (nay là Bắc Ninh), có tài hát xướng. Bà mất năm 1778.

Những năm loạn lạc

1780
Anh cả Nguyễn Khản bị khép tội trong vụ án năm Canh Tý. Nguyễn Du được Đoàn Nguyễn Tuấn đón về Sơn Nam Hạ (Nam Định) nuôi ăn học.
1783
Ông đỗ Tam trường kỳ thi Hương ở trường Sơn Nam, lấy con gái Đoàn Nguyễn Thục, và nhận chức Chánh thủ hiệu quân hùng hậu ở Thái Nguyên.
1789
Nhà Lê sụp đổ. Nguyễn Du về sống ở quê vợ (Quỳnh Côi, Thái Bình), rồi về quê nhà Tiên Điền.
1796
Ông định vào Gia Định theo Nguyễn Ánh, bị bắt giam ba tháng ở Nghệ An. Trong ngục, ông viết bài thơ My trung mạn hứng.

Con đường làm quan

1802
Nhà Nguyễn lên ngôi. Nguyễn Du làm Tri huyện Phù Dung (nay thuộc Hưng Yên), vài tháng sau thăng Tri phủ Thường Tín.
1803
Được cử lên ải Nam Quan tiếp sứ nhà Thanh sang phong sắc cho vua Gia Long.
1805
Thăng Đông Các Đại học sĩ, tước Du Đức hầu, vào nhận chức ở kinh đô Phú Xuân.
1807
Làm giám khảo kỳ thi Hương ở Hải Dương.
1809
Giữ chức Cai bạ ở Quảng Bình.
1813
Thăng Cần chánh điện học sĩ, được cử làm Chánh sứ sang nhà Thanh.
1814
Đi sứ về, thăng Hữu tham tri bộ Lễ.

Những năm cuối

1820
Vua Gia Long mất, vua Minh Mạng lên ngôi. Nguyễn Du lại được cử làm Chánh sứ sang nhà Thanh, nhưng chưa kịp lên đường thì lâm bệnh và mất ngày 10 tháng 8 năm Canh Thìn (tháng 9 năm 1820), thọ 54 tuổi. Ông được an táng ở làng An Ninh, huyện Hương Trà, gần chùa Thiên Mụ.
1824
Mộ ông được cải táng về quê nhà Tiên Điền, Hà Tĩnh.

Di sản văn chương

Chữ Hán
250 bài thơ trong ba tập: Thanh Hiên thi tập (78 bài), Nam trung tạp ngâm (40 bài) và Bắc hành tạp lục (132 bài). Những bài nổi tiếng nhất có Độc Tiểu Thanh ký, Sở kiến hành, Long Thành cầm giả ca.
Chữ Nôm
Truyện Kiều (Đoạn Trường Tân Thanh), bản phổ biến có 3.254 câu lục bát, còn bản 1874 trong sách này có 3.260 câu. Văn tế thập loại chúng sinh, 184 câu song thất lục bát. Ông còn để lại Văn tế sống hai cô gái Trường Lưu và bài Thác lời trai phường nón.
UNESCO
Năm 2013, Đại hội đồng UNESCO khóa 37 thông qua nghị quyết vinh danh Nguyễn Du, để thế giới cùng kỷ niệm 250 năm ngày sinh của ông vào năm 2015.

Cuộc đời nhiều thăng trầm giúp ông thấu hiểu nỗi khổ của mọi kiếp người, và tấm lòng ấy chảy vào từng câu thơ.

Tham khảo: Tiểu sử Đại thi hào Nguyễn Du, Trang thông tin điện tử xã Sơn Hồng, Hà Tĩnh.

II

Kiều là ai

Câu chuyện xoay quanh chữ tài và chữ mệnh, để rồi kết lại ở chữ tâm.

Vương Thúy Kiều, sắc đẹp hơn người, giỏi cầm kỳ thi họa.

Nàng là con gái đầu của một nhà viên ngoại họ Vương. Trong tiết Thanh Minh, nàng gặp chàng thư sinh Kim Trọng, hai người thề nguyền gắn bó.

Rồi gia đình gặp nạn, cha và em trai bị bắt oan. Kiều bán mình chuộc cha, nhờ em gái là Thúy Vân thay mình kết duyên với Kim Trọng. Từ đó nàng trôi nổi mười lăm năm: bị lừa vào lầu xanh của Tú Bà, làm lẽ Thúc Sinh và bị Hoạn Thư đày đọa, rồi gặp người anh hùng Từ Hải.

Khi Từ Hải trúng kế Hồ Tôn Hiến mà chết, Kiều gieo mình xuống sông Tiền Đường, được sư Giác Duyên cứu sống. Sau cùng Kim Trọng tìm được nàng, cả nhà đoàn tụ, và Kiều xin đổi tình vợ chồng thành tình bạn.

Tranh Kiều trao duyên cho Thúy Vân
Kiều trao duyên cho Thúy Vân, tranh trong sách

Câu chuyện qua 17 bức tranh trong sách

Mỗi đoạn truyện lớn có một bức tranh in màu trọn trang, kèm hai câu thơ của chính cảnh ấy. Có tranh vẽ theo y phục đời Minh của nguyên truyện, có tranh theo áo vấn khăn, lũy tre, hồ sen của người đọc Việt.

Chị em Thúy Kiều
IChị em Thúy Kiều
Viếng mộ Đạm Tiên
IIViếng mộ Đạm Tiên
Gặp gỡ Kim Trọng
IIIGặp gỡ Kim Trọng
Kiều đánh đàn cho Kim Trọng nghe
IVKiều đánh đàn cho Kim Trọng nghe
Mã Giám Sinh đến mua Kiều
VMã Giám Sinh đến mua Kiều
Trao duyên cho Thúy Vân
VITrao duyên cho Thúy Vân
Lầu Ngưng Bích
VIILầu Ngưng Bích
Hoạn Thư bắt Kiều đánh đàn hầu rượu
VIIIHoạn Thư bắt Kiều đánh đàn hầu rượu
Chép kinh ở Quan Âm các
IXChép kinh ở Quan Âm các
Gặp gỡ Từ Hải
XGặp gỡ Từ Hải
Báo ân báo oán
XIBáo ân báo oán
Từ Hải chết đứng
XIITừ Hải chết đứng
Gảy đàn cho Hồ Tôn Hiến
XIIIGảy đàn cho Hồ Tôn Hiến
Gieo mình xuống sông Tiền Đường
XIVGieo mình xuống sông Tiền Đường
Ngư ông vớt Kiều, sư Giác Duyên cứu
XVNgư ông vớt Kiều, sư Giác Duyên cứu
Lập đàn giải oan bên sông
XVILập đàn giải oan bên sông
Kim Kiều tái hợp
XVIIKim Kiều tái hợp
III

Hành trình của bản chép tay 1874

Một áng thơ hay đến mấy cũng chỉ sống được nếu có người chịu chép lại nó.

Bìa ấn bản Collector của Truyện Kiều
Ấn bản Collector, bìa vải gáy mạ vàng
1874

Tăng Hữu Ứng chép tay

Năm Tự Đức, Giáp Tuất, 54 năm sau ngày Nguyễn Du mất, ông Tăng Hữu Ứng chép trọn bộ Truyện Kiều bằng chữ Nôm. Người đời sau tả nét bút ấy là "chữ chân phương tuyệt đẹp, đều đặn, rõ nét, dễ đọc". Đầu bản còn giữ bài đề từ của Phạm Quý Thích, người bạn thân của Nguyễn Du, do chính tay ông chép lại.

Về sau

Tìm thấy ở Huế

Giáo sư Đàm Quang Hưng sưu tầm được bản chép tay ấy ở Huế, và trao cho Bác sĩ Nguyễn Huy Hùng một bản phóng ảnh.

2002

Từng chữ được gõ lại ở Houston

Tại Houston, Bác sĩ Nguyễn Huy Hùng dành nhiều năm dựng lại toàn bộ tác phẩm trên máy tính. Ông tự tay tạo hình lại từng chữ Nôm, mỗi câu chữ Nôm đi kèm một câu Quốc Ngữ. Ngày 27 tháng 10 năm 2002, ông ký tên và gửi tặng bằng hữu năm châu bốn biển, mượn chính lời kết của Truyện Kiều: để "mua vui trong một vài trống canh".

2006

Được giới nghiên cứu ghi nhận

Hội Bảo tồn Di sản Chữ Nôm đưa bản 1874 vào sáu phiên bản Truyện Kiều được đem ra đối chiếu trong hội thảo năm 2006, và ghi rõ: bản này có 3.260 câu, nhiều hơn các bản khác 6 câu.

2026

Lần đầu tiên thành sách

Sách Việt sắp chữ lại và in thành sách, giữ nguyên văn bản và cách đánh số câu của bản ấy, chữ Nôm in đúng nét chữ của bản chép tay. Hơn 200 năm sau khi Nguyễn Du viết nên áng thơ, và hơn 150 năm sau ngày Tăng Hữu Ứng đặt bút, bản Kiều này mới có thể cầm trên tay, đặt lên kệ, truyền lại cho con cháu.

IV

Bài đề từ của Phạm Quý Thích

Bài thơ người bạn thân của Nguyễn Du viết khi nghe Đoạn Trường Tân Thanh, chép ở đầu bản 1874 bằng chính nét bút Tăng Hữu Ứng.

Bài đề từ chữ Hán, thủ bút Tăng Hữu Ứng
佳人不是到錢塘Giai nhân bất thị đáo Tiền ĐườngGiá người đẹp chẳng đến sông Tiền Đường,
半世煙花債未償Bán thế yên hoa trái vị thườngthì nửa đời nợ yên hoa vẫn chưa trả hết.
玉面豈應埋水國Ngọc diện khởi ưng mai thủy quốcMặt ngọc lẽ đâu đành vùi nơi đáy nước,
冰心自可對金郎Băng tâm tự khả đối Kim langlòng trong như băng vẫn còn nhìn mặt được chàng Kim.
斷腸夢裡根緣了Đoạn trường mộng lý căn duyên liễuTrong giấc mộng đoạn trường, căn duyên đã dứt,
薄命琴終怨恨長Bạc mệnh cầm chung oán hận trườngkhúc đàn bạc mệnh đã dứt, mà oán hận còn dài.
一片才情千古累Nhất phiến tài tình thiên cổ lụyMột mảnh tài tình, lụy đến nghìn đời,
新聲到底為誰傷Tân thanh đáo để vị thùy thươngkhúc tân thanh rốt cuộc là thương xót cho ai?
V

Chữ Nôm, chữ của người Việt

Truyện Kiều được viết bằng chữ Nôm, thứ chữ ghi lại đúng tiếng nói của người Việt. Chính vì thế áng thơ mới đi vào lòng người, từ cung đình tới xóm làng.

Chữ Hán
佳人不是到錢塘
Đọc là: Giai nhân bất thị đáo Tiền Đường
Phải dịch mới hiểu: Giá người đẹp chẳng đến sông Tiền Đường

Chữ của người Trung Hoa, ông cha ta dùng trong thi cử, sách vở và giấy tờ triều đình. Đọc lên bằng âm Hán Việt, viết theo văn phạm Hán, nên phải học nhiều năm mới đọc hiểu được. Bài đề từ của Phạm Quý Thích ở chương IV viết bằng chữ Hán.

Chữ Nôm
Câu đầu Truyện Kiều bằng chữ Nôm
Đọc là: Trăm năm trong cõi người ta
Đọc lên là tiếng Việt, ai nghe cũng hiểu

Chữ người Việt tự đặt ra, dựa trên nét chữ Hán, để ghi lại chính tiếng nói hằng ngày. Có chữ mượn nguyên một chữ Hán để ghi âm, có chữ ghép hai phần, một phần gợi nghĩa, một phần gợi âm. Từ đời Trần, Hàn Thuyên đã nổi tiếng làm thơ bằng chữ Nôm.

Đọc từng chữ

Hai câu mở đầu Truyện Kiều, cắt từng chữ từ chính bản chép tay. Dưới mỗi chữ là cách người Trung Quốc đọc chữ ấy, âm Hán Việt, và cách người Việt đọc trong Truyện Kiều.

Xem cách đọc từng chữThu gọn
Chữ người Việt tự đặtMượn trọn chữ HánMượn âm, bỏ nghĩa

Trăm năm trong cõi người ta

Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau

Muốn tìm hiểu thêm về chữ Hán và chữ Nôm, bạn bấm vào từng chữ để tra trên Unihan, cơ sở dữ liệu chữ Hán của Unicode, có đủ cách đọc tiếng Trung, Hán Việt và chữ Nôm.

Thế kỷ 13Thơ văn chữ Nôm xuất hiện, với Hàn Thuyên đời Trần
Hơn 700 nămChữ Nôm ghi lại văn chương, lịch sử, thuốc men, lời ăn tiếng nói của người Việt
Đầu thế kỷ 20Chữ Quốc Ngữ thay dần chữ Nôm trong đời sống
Dưới 100học giả trên thế giới đọc được chữ Nôm, theo Hội Bảo tồn Di sản Chữ Nôm

Vì thế mỗi câu Nôm trong sách đều có câu Quốc Ngữ đi kèm. Bạn vừa ngắm được nét chữ của người xưa, vừa đọc trọn được áng thơ.

VI

Những câu thơ bạn đã thuộc, trong nét chữ của năm 1874

Mỗi câu dưới đây lấy nguyên từ trang sách, chữ Nôm phía trên, Quốc Ngữ phía dưới.

Chữ Nôm câu 1Chữ Nôm câu 2

Trăm năm trong cõi người ta
Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau

CÂU 1 · 2
Chữ Nôm câu 25Chữ Nôm câu 26

Làn thu thuỷ, nét xuân sơn
Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh

CÂU 25 · 26
Chữ Nôm câu 41Chữ Nôm câu 42

Cỏ non xanh tận chân trời
Cành lê trắng điểm một vài bông hoa

CÂU 41 · 42
Chữ Nôm câu 1035Chữ Nôm câu 1036

Trước lầu Ngưng Bích khóa xuân
Vệt non xa tấm trăng gần ở chung

CÂU 1035 · 1036
Chữ Nôm câu 1049Chữ Nôm câu 1050

Buồn trông cửa biển chiều hôm
Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa

CÂU 1049 · 1050

Để ý kỹ, bạn sẽ thấy vài chữ khác với bản quen thuộc trong sách giáo khoa, như "vệt non xa" hay "cửa biển". Đó là cách đọc riêng của bản chép tay 1874, và sách giữ nguyên đúng như thế.

Những câu thơ hiếm của bản 1874

Bản 1874 có 3.260 câu, dài hơn các bản in khắc năm 1866, 1871 và 1872 đúng 6 câu, như Hội Bảo tồn Di sản Chữ Nôm đã chỉ ra năm 2006. Khác biệt nằm trọn ở ba đoạn dưới đây, đặt cạnh nhau để bạn so. Trong sách, số câu của những câu này in màu vàng, và một trang riêng ở đầu sách đối chiếu đủ cả ba đoạn.

Câu 531 đến 536Kim Trọng nhận thư nhà
Chữ Nôm câu 531Chữ Nôm câu 532
Bản Tăng Hữu Ứng 1874
  1. 531Mở xem thủ bút nghiêm đường
  2. 532Nhắn rằng thúc phụ xa đường mệnh chung
  3. 533Hãy còn ký táng Liêu Đông
  4. 534Cố hương khơi diễn ngàn trùng sơn khê
  5. 535Rày đưa linh tẫn về quê
  6. 536Thế nào con cũng phải về hộ tang
Bản in khắc 1866, 1871, 1872
  1. Đem tin thúc phụ từ đường
  2. Bơ vơ lữ thấn tha hương đề huề
  3. Liêu Dương cách trở sơn khê
  4. Xuân đường kíp gọi Sinh về hộ tang
Câu 1829 đến 1832Thúc Sinh gặp lại Kiều ở nhà Hoạn Thư
Chữ Nôm câu 1829Chữ Nôm câu 1830
Bản Tăng Hữu Ứng 1874
  1. 1829Thương ôi, mảnh sắt vào lò
  2. 1830Bấy lâu nay biết dầy vò đến đâu
  3. 1831Nỗi lòng chẳng đánh mà đau
  4. 1832Đương cười nói bỗng mặt rầu giọt sa
Bản in khắc 1866, 1871, 1872
  1. Sợ quen dám hở ra lời
  2. Khôn ngăn giọt ngọc sụt sùi nhỏ sa
Câu 1889 đến 1892Kiều hầu hạ Hoạn Thư
Bản Tăng Hữu Ứng 1874
  1. 1889Sớm khuya hầu hạ đài doanh
  2. 1890Nét sầu khôn cưỡng, lệ tình khôn ngăn
  3. 1891Ra vào thui thủi chiếc thân
  4. 1892Tiểu thư trông mặt xa gần hỏi tra
Bản in khắc 1866, 1871, 1872
  1. Sớm khuya hầu hạ đài doanh
  2. Tiểu thư chạm mặt, đè tình hỏi tra
VII

Bên trong sách

Thơ in một cột giữa trang, chữ Nôm trên, Quốc Ngữ ngay dưới, số câu bên lề để dễ tra cứu. Bấm vào từng trang để xem lớn, bấm thêm lần nữa để phóng to từng chữ.

Hai trang mẫu trong sách, chữ Nôm và Quốc Ngữ đối chiếu

Trang 58 và 59, đoạn Kim Trọng nhận thư nhà. Số câu màu vàng đánh dấu câu riêng của bản 1874.

Trang tựa
Trang tựa
Mục lục
Mục lục theo 28 đoạn truyện
Bài đề từ
Bài đề từ, thủ bút 1874
Về bản in này
Về bản in này
Câu riêng của bản 1874
Đối chiếu câu riêng của bản 1874
Trang thơ đầu tiên
Trang thơ đầu tiên
Tranh chị em Thúy Kiều
Tranh in màu trọn trang
Trang chú giải
Chú giải điển tích
VIII

Một ấn bản được biên tập kỹ lưỡng

Văn bản đã được rà soát từng câu, từng chữ trước khi in.

驗

Đối chiếu với chính bản gốc

Cả 3.260 câu được so khớp với 315 số thứ tự mà chính bản chép tay tự đánh, để thứ tự từng câu đúng như bản gốc.

較

Tra cứu với bản in khắc cổ

Từng chữ cần cân nhắc đều được tra lại với hai bản in khắc cổ năm 1866 và 1871 trước khi chốt.

刻

Dựng lại từng nét chữ Nôm

Mỗi chữ Nôm được dựng lại thành nét vẽ thật, nên in ra sắc nét, đúng hình chữ của bản chép tay.

解

217 mục chú giải

Mục lục chia theo 28 đoạn truyện trong 3 phần, cùng 217 chú giải cho những điển tích, địa danh và nhân vật mà người đọc hôm nay dễ bỏ sót.

Hơn 150 năm qua, bản Kiều này còn lại được là nhờ có người giữ nó. Giờ đến lượt bạn.

IX

Ba ấn bản

Cả ba có cùng nội dung trọn vẹn. Khác nhau ở cách đóng sách và giấy in.

Giao miễn phí tới hơn 200 quốc gia và vùng lãnh thổ
Truyện Kiều bìa mềm

Bìa mềm

$39.99
  • Khổ 6 x 9 inch (15,2 x 22,9 cm), 380 trang
  • Nôm và Quốc Ngữ đối chiếu từng câu
  • 17 tranh minh họa in màu
  • 217 chú giải điển tích
  • Giấy ruột trắng, mặt mịn
  • Bìa mềm cán mờ, bền và chống trầy
Đặt mua
Truyện Kiều bìa cứng

Bìa cứng

$79.99

Gồm các nội dung ở bản bìa mềm, và:

  • Bìa cứng cán mờ, bọc trên ván dày 2,2 mm
  • Giấy lót bìa trắng
  • Bền, trang trọng, hợp để giữ lâu và làm quà
Đặt mua
Truyện Kiều Collector's Edition
Chỉ có 500 bản

Collector's Edition

$149.99

Gồm các nội dung ở bản bìa cứng, và:

  • Bìa linen xanh navy, gáy mạ chữ vàng
  • Áo bìa in riêng, hoa văn sen mây
  • Giấy ruột dày và láng, tranh in sắc nét
  • Mỗi cuốn được đánh số riêng, kèm note của bạn lúc chọn ấn bản
Chọn ấn bản riêng của bạn

Sách Việt giao miễn phí tới tất cả độc giả yêu mến văn thơ Việt, ở hơn 200 quốc gia và vùng lãnh thổ

Các nơi Sách Việt giao tới (205)
  • Ả Rập Xê-út
  • Afghanistan
  • Ai Cập
  • Albania
  • Algeria
  • Andorra
  • Angola
  • Anguilla
  • Antigua và Barbuda
  • Áo
  • Argentina
  • Armenia
  • Aruba
  • Azerbaijan
  • Ấn Độ
  • Ba Lan
  • Bahamas
  • Bahrain
  • Bangladesh
  • Barbados
  • Bắc Macedonia
  • Belize
  • Benin
  • Bermuda
  • Bhutan
  • Bỉ
  • Bolivia
  • Bosnia và Herzegovina
  • Botswana
  • Bồ Đào Nha
  • Bờ Biển Ngà
  • Brazil
  • Brunei
  • Bulgaria
  • Burkina Faso
  • Burundi
  • Ca-ri-bê Hà Lan
  • Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất
  • Cameroon
  • Campuchia
  • Canada
  • Cape Verde
  • Chad
  • Chile
  • Colombia
  • Costa Rica
  • Cộng hòa Congo
  • Cộng hòa Dân chủ Congo
  • Cộng hòa Dominica
  • Croatia
  • Curaçao
  • Djibouti
  • Dominica
  • Đài Loan
  • Đan Mạch
  • Đảo Man
  • Đức
  • Ecuador
  • El Salvador
  • Eritrea
  • Estonia
  • Eswatini
  • Ethiopia
  • Fiji
  • Gabon
  • Gambia
  • Georgia
  • Ghana
  • Gibraltar
  • Greenland
  • Grenada
  • Guadeloupe
  • Guam
  • Guatemala
  • Guernsey
  • Guiana thuộc Pháp
  • Guinea
  • Guyana
  • Hà Lan
  • Haiti
  • Hàn Quốc
  • Hoa Kỳ
  • Honduras
  • Hồng Kông
  • Hungary
  • Hy Lạp
  • Iceland
  • Indonesia
  • Iraq
  • Ireland
  • Israel
  • Italy
  • Jamaica
  • Jersey
  • Jordan
  • Kazakhstan
  • Kenya
  • Kosovo
  • Kuwait
  • Kyrgyzstan
  • Lãnh thổ Ấn Độ Dương thuộc Anh
  • Lào
  • Latvia
  • Lesotho
  • Li-băng
  • Liberia
  • Libya
  • Liechtenstein
  • Litva
  • Luxembourg
  • Ma Cao
  • Ma-rốc
  • Madagascar
  • Malawi
  • Malaysia
  • Maldives
  • Mali
  • Malta
  • Martinique
  • Mauritania
  • Mauritius
  • Mayotte
  • Mexico
  • Moldova
  • Monaco
  • Montenegro
  • Montserrat
  • Mozambique
  • Mông Cổ
  • Na Uy
  • Nam Phi
  • Namibia
  • Nepal
  • New Caledonia
  • New Zealand
  • Nhật Bản
  • Nicaragua
  • Niger
  • Nigeria
  • Oman
  • Pakistan
  • Palestine
  • Panama
  • Papua New Guinea
  • Paraguay
  • Peru
  • Pháp
  • Phần Lan
  • Philippines
  • Polynesia thuộc Pháp
  • Puerto Rico
  • Qatar
  • Quần đảo Åland
  • Quần đảo Cayman
  • Quần đảo Cook
  • Quần đảo Faroe
  • Quần đảo Pitcairn
  • Quần đảo Turks và Caicos
  • Quần đảo Virgin thuộc Anh
  • Réunion
  • Romania
  • Rwanda
  • Saint Barthélemy
  • Saint Kitts và Nevis
  • Saint Lucia
  • Saint Martin
  • Saint Vincent và Grenadines
  • Samoa
  • San Marino
  • Séc
  • Senegal
  • Serbia
  • Seychelles
  • Singapore
  • Sint Maarten
  • Síp
  • Slovakia
  • Slovenia
  • Sri Lanka
  • Suriname
  • Svalbard và Jan Mayen
  • Tanzania
  • Tây Ban Nha
  • Tây Sahara
  • Thái Lan
  • Thành Vatican
  • Thổ Nhĩ Kỳ
  • Thụy Điển
  • Thụy Sĩ
  • Timor-Leste
  • Togo
  • Tonga
  • Trinidad và Tobago
  • Trung Quốc
  • Tunisia
  • Úc
  • Uganda
  • Uruguay
  • Uzbekistan
  • Vanuatu
  • Việt Nam
  • Vương quốc Anh
  • Wallis và Futuna
  • Zambia
  • Zimbabwe
Các nơi Sách Việt không giao tới được

Do hạn chế từ đơn vị vận chuyển, Sách Việt không giao tới được các nơi sau:

  • Belarus
  • Comoros
  • Cộng hòa Trung Phi
  • Crimea
  • Cuba
  • Đảo Johnston
  • Đảo Wake
  • Guinea Xích Đạo
  • Guinea-Bissau
  • Iran
  • Kiribati
  • Myanmar
  • Nam Sudan
  • Nauru
  • Nga
  • Niue
  • Quần đảo Falkland
  • Quần đảo Solomon
  • Saint Helena, Ascension và Tristan da Cunha
  • Saint Pierre và Miquelon
  • São Tomé và Príncipe
  • Sierra Leone
  • Somalia
  • Sudan
  • Syria
  • Tajikistan
  • Tokelau
  • Triều Tiên
  • Turkmenistan
  • Tuvalu
  • Ukraine
  • Venezuela
  • Yemen
Trăm năm trong cõi người ta, chữ Nôm
Trăm năm trong cõi người ta

Giữ một bản cho riêng mình

Truyện Kiều bản chữ Nôm 1874, lần đầu tiên in thành sách.

Đặt mua ngay
Bấm hoặc cuộn chuột để phóng to, phím mũi tên để chuyển ảnh